Tranh sơn dầu

Một trong những sự kiện quan trọng trong nghệ thuật Phục Hưng ở châu Âu là việc khám phá ra chất liệu sơn dầu của họa sĩ Jan Van Eyck (1390-1441). Ông đã tìm ra cách dùng dầu lanh để pha màu vẽ làm cho màu tranh tươi tắn hơn, dễ bảo quản và được lưu giữ lâu bền. Với khả năng biểu đạt gần như vô tận, sơn dầu đã trở thành chất liệu chính của hội họa tại châu Âu từ thời Phục Hưng – đầu thế kỷ XV và trở thành một trong những chất liệu quan trọng của hội họa thế giới từ đầu thế kỷ XX đến nay.

            Cũng như một số nước phương Đông, ở Việt Nam, chất liệu sơn dầu được biết đến từ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Các tranh Chân dung cụ Tú mền (1896) của Lê Văn Miến và Phạm Ngũ Lão (1923) CủaThang Trần  Phềnh (5) được biết đến như những tranh sơn dầu đầu tiên trong hội họa Việt Nam. Song lịch sử tranh sơn dầu Việt Nam chính thức bắt đầu từ khi Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương được thành lập năm 1925. Trong những năm học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, ngoài những chất liệu hội họa truyền thống như sơn mài, lụa, khắc gỗ, sinh viên Việt Nam còn được học vẽ sơn dầu. Lần đầu tiên được tiếp cận với một chất liệu mới, nhưng các sinh viên Việt Nam đã chứng tỏ khả năng nắm bắt nhanh kỹ thuật vẽ sơn dầu và khai thác thế mạnh của chất liệu này trong sáng tạo của mình. Chính ngôi trường này đã góp phần tạo nên nhiều họa sĩ nôi tiếng của nghệ thuật hiện đại Việt Nam ở chất liệu sơn dầu như Tô Ngọc Vân, Lê Phổ, Trần Văn Cẩn, Lưu Văn Sìn, Ủ Văn An, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm… Kế thừa những thành tựu của các họa sĩ thế hệ đầu tiên của mỹ thuật hiện đại Việt Nam, những thế hệ tiếp theo đã tiếp tục tìm tòi, thử nghiệm chất liệu này để tạo được nhiều tác phẩm có giá trị góp phần tạo nên nền mỹ thuật vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính thời đại.

            Bộ sưu tập tranh sơn dầu tại bảo tàng mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh là một trong nhiều bộ sưu tập mỹ thuật hiện đại Việt Nam được hình thành từ chủ trương, kế hoạch và định hướng sưu tầm của bảo tàng qua các thời kỳ.

 

            CÁC HÌNH THỨC SƯU TẦM

            Khi Bảo tàng được thành lập (năm 1987), một trong những khó khăn lớn nhất là việc chưa có hiện vật, nên công việc cần phải tiến hành ngay là sưu tầm hiện vật để trưng bày khi tòa nhà được trùng tu sửa chữa xong. Với sự cố gắng của cán bộ, viên chức Bảo tàng, sự ủng hộ của các đơn vị, tổ chức và các cá nhân, Bảo tàng đã mở cửa phục vụ khách tham quan vào cuối năm 1989. Và từ đó đến nay, Bảo tàng vẫn tiếp tục sưu tầm hiện vật để xây dựng các sưu tập hiện vật có giá trị, tạo nên nét riêng của Bảo tàng. Các sưu tập hiện vật của Bảo tàng nói chung và tranh sơn dầu nói riêng đều được hình thành bằng ba hình thức:

            Thứ nhất; Bảo tàng mua bằng nguồn kinh phí do Nhà nước cấp thường xuyên và đột xuất. Trong thời gian đầu kinh phí được cấp khá khiêm tốn, Bảo tàng luôn cố gắng tiết kiệm các chi phí để có tiền mua được những tác phẩm có giá trị. Trong những năm gần đây, được sự quan tâm sâu sát của Lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng đã có điều kiện thuận lợi hơn trong việc sưu tầm hiện bật bằng nguồn kinh phí mà Thành phố đầu tư cho sưu tầm hiện vật của các bảo tàng công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nhờ chủ trương trên, Bảo tàng đã chủ động và sưu tầm được nhiều bộ sưu tập mới và bổ sung cho những sưu tập đã hình thành, trong đó có bộ Sưu tập tranh sơn dầu.

            Thứ hai; Bảo tàng nhận từ cơ quan, ban nghành chức năng và đơn vị giao. Bằng cách tìm hiểu, thu thập thông tin về các tác phẩm đạt tiêu chí sưu tầm, bảo tàng đã chủ động liên hệ với các cơ quan, đơn vị đang lưu giữ hiện vật, kịp thời đề xuất các cấp lãnh đạo, trao đổi với các đơn vị để được tiếp nhận và phát huy giá trị của những tác phẩm mỹ thuật.

            Thứ ba; Bảo tàng được tặng bởi tác giả hoặc gia đình tác giả, các nhà sưu tập trong và ngoài nước. Bằng những nỗ lực trong hoạt động, thái độ trân trọng đối với những tác phẩm nghệ thuật hội họa, tác phong làm việc nghiêm túc, khoa học của cán bộ chuyên môn, thế mạnh trong công tác giao lưu, Bảo tàng đã tạo được ấn tượng tốt và niềm tin của nhiều họa sĩ, nhà sưu tập vào sự phát triển bền vững của Bảo tàng. Vì vậy, Bảo tàng đã nhận được nhiều tác phẩm có giá trị, bắt đầu từ bức Em tôi của họa sĩ Nguyễn Sáng do nhà sưu tập Trần Mã Thượng tặng năm 1990. Tác phẩm này không chỉ là bức tranh sơn dầu đầu tiên, mà còn là hiện vật đầu tiên mà Bảo tàng được tặng. Thời gian trôi qua, số tranh mà Bảo tàng được tặng ngày càng nhiều hơn. Không chỉ tăng về số lượng, mà nhiều tác phẩm có giá trị của những tác giả nổi tiếng của mỹ thuật hiện đại Việt Nam như Võ Lăng, Lê Bá Đảng, Vĩnh Phối, Lâm Triết, Ca Lê Thắng… Để thể hiện lòng biết ơn và sự trân trọng đối với những tác giả, tác phẩm được tặng, Bảo tàng đã tổ chức những buổi lễ trang trọng Tiếp nhận tác phẩm, trao Giấy Chứng nhận cho những người đã hiến tác phẩm cho Bảo tàng. Đặc biệt, cuối năm 2013 Bảo tàng đã tổ chức trưng bày chuyên đề “Bộ sưu tập các tác phẩm mỹ thuật được tặng” như một lời tri ân những ai đã góp phần làm phong phú thêm cho các sưu tập của Bảo tàng và sự trân trọng những giá trị nghệ thuật.

 

            CÁC GIAI ĐOẠN SƯU TẦM

            Đê có được bộ sưu tập tranh sơn dầu như hôm nay, Bảo tàng đã phải cố gắng vượt qua nhiều khó khăn, tận dụng mọi cơ hội, bám sát định hướng để đặt ra công tác trọng tâm cho từng giai đoạn cụ thể. Sưu tầm tranh sơn dầu tại Bảo tàng là một quá trình diễn ra liên tục từ khi được thành lập đến nay, nhưng có thể tạm chia thành bốn giai đoạn.

            Giai đoạn 1987 – 1997: Đây là thời kỳ khó khăn nhất trong công tác sưu tầm hiện vật, do tình hình kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn nên kinh phí Nhà nước cấp rất ít, Bảo tàng còn phải tiến hành tu sửa, cải tạo tòa nhà cho phù hợp với công năng của một bảo tàng. Tuy vậy, nhằm xây dựng những sưu tập độc đáo thể hiện nét đặc trưng của bảo tàng mỹ thuật duy nhất ở phía Nam, Bảo tàng đã khảo sát, nghiên cứu, sưu tầm được nhiều tác phẩm có giá trị của các giai đoạn mỹ thuật hiện đại Việt Nam và bước đầu hình thành nên bộ sưu tập tranh sơn dầu.

            Giai đoạn 1997 – 2005: Là thời kỳ mà Bảo tàng thực hiện kế hoạch sưu tầm tác phẩm mỹ thuật hiện đại với trọng tâm là các tác phẩm đề tài chiến tranh Cách mạng để xây dựng và hoàn thiện sưu tập các tác phẩm có giá trị mỹ thuật và lịch sử về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ta. Vì sau năm 1975, đa số các họa sĩ đã tham gia kháng chiến ở Nam bộ đều tiếp tục sáng tác về đề tài này và sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh.

            Giai đoạn 2005 – 2010: Có thể nói, đây là thởi kỳ mà công tác sưu tầm mang tính chuyên môn sâu hơn. Dù biết có nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm các tác phẩm, nhưng để kịp thời bổ sung cho sưu tập tranh sơn dầu, Bảo tàng đã đặt trọng tâm sưu tầm giai đoạn này là mỹ thuật Sài Gòn trước năm 1975. Sau 5 năm, Bảo tàng đã có được hơn 30 tranh sơn dầu được những họa sĩ Sài Gòn vẽ trước năm 1975.

            Từ 2010 – 2015: Ngoài việc tiếp tục sưu tầm những tác phẩm có giá trị thuộc các giai đoạn khác nhau, Bảo tàng đặt kế hoạch trọng tâm sưu tầm các tác phẩm theo các xu hướng nghệ thuật mới, các sáng tác trong những thập niên gần đây, tác phẩm của các họa sĩ trẻ đạt tiêu chí của bảo tàng. Đây cũng là giai đoạn Bảo tàng xây dựng các sưu tập trọn vẹn về những họa sĩ nổi tiếng với số lượng tác phẩm của mỗi tác giả có ít nhất từ 5 tác phẩm trở lên. Thực hiện chủ trương này, bảo tàng đã hình thành được một số sưu tập tác phẩm theo phong cách, xu hướng sáng tác và quá trình sáng tạo của một số họa sĩ nổi tiếng.

            CÁC SƯU TẬP CHÍNH

            Hơn 27 năm đã trôi quan, bằng nguồn kinh phí của Nhà nước, sự ủng hộ của các họa sĩ, nhà sưu tập, các nhà chuyên môn, Bảo tàng đã có được bộ sưu tập tranh sơn dầu tương đối phong phú về đề tài, phong cách, xu hướng sáng tác phản ánh quá trình hình thành và phát triển của chất liệu sơn dầu trong hội họa Việt Nam nói chung và khu vực phía Nam nói riêng.

            Một trong những sưu tập có giá trị trong bộ sưu tập tranh sơn dầu tại Bảo tàng là Sưu tập tác phẩm của các họa sĩ từng học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và Trường Mỹ thuật Gia Định. Đây là những tác phẩm của thế hệ họa sĩ đầu tiên của hội họa hiện đại Việt Nam, những người đã đặt nền móng cho sự hình thành và có vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển những giai đoạn tiếp theo. Thế hệ họa sĩ này đã được tiếp thu những kiến thức mang tính khoa học của hội họa phương Tây, những tác phẩm của họ vẫn mang đậm tính dân tộc. Được học trực tiếp với các họa sĩ bậc thầy về chất liệu sơn dầu như Victor Tardieu, Inguimberty, sáng tác theo các xu hướng Cổ Điển, Lãng Mạn, Ấn Tượng nhưng tranh của họ vẫn mang đậm hồn Việt ở đề tài về thiên nhiên, con người việt Nam bằng cảm xúc của người nghệ sĩ Việt. Dù nhiều khó khăn khi sưu tầm mỹ thuật giai đoạn này, nhưng Bảo tàng đã có được nhiều tác phẩm của các họa sĩ xuất thân từ hai ngôi trường này vào có vai trò quan trọng trong việc hình thành mỹ thuật Nam bộ như Nguyễn Sáng, Nguyễn Phi Hoanh, Diệp Minh Châu, Trần Văn Lắm, Nguyễn Hiêm, Nguyễn Văn Anh, Nguyễn Siên, Thuận Hồ, Võ Lăng, Đỗ Đình Hiệp, Nguyễn Trí Minh, Hoàng Trầm, Mai Văn Hiến, Hiếu Đệ…

            Sưu tập Mỹ thuật Sài Gòn giai đoạn 1954 – 1975: Sưu tập tác phẩm của những họa sĩ tiêu biểu cho các khuynh hướng sáng tác ở Sài Gòn giai đoạn 1954 – 1975 là một nét độc đáo của Bảo tàng, dù sưu tập vẫn đang tiếp tục được hoàn thiện. Nếu nửa đầu thế kỷ XX, mỹ thuật hiện đại Việt Nam được định hình, thì sau năm 1954, chiến tranh đã chia cắt đất nước thành hai miền Nam – Bắc, là giai đoạn mỹ thuật Việt Nam kế thừa và phát triển với những đặc điểm riêng của mỗi miền tạo nên bức tranh chung của mỹ thuật Việt Nam. Nếu ở miền Bắc xu hướng Hiện thực là chủ đạo, thì ở miền Nam với sự giao lưu trực tiếp với mỹ thuật phương Tây, mỹ thuật lại phát triển theo nhiều xu hướng khác nhau. Những họa sĩ vẫn tiếp tục sáng tác theo phong cách Cổ điển, Hiện thực, Lãng mạn gồm Văn Đen, Nguyễn Siên, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Văn Phương, Đào Sĩ Chu, Đỗ Đình Hiệp, Tôn Thất Đào, Trần Dzụ Hồng, Thuận Hồ, Đỗ Quang Em, Nguyễn Trí Minh, Trương Thị Thịnh, Nguyễn Huy Dũng, Lê Chánh… Nhóm họa sĩ thiên hẳn sang các xu hướng Trừu tượng, Lập thể mới du nhập từ phương Tây vào đầu thập niên bảy mươi có Tạ Tỵ, Thái Tuấn, Duy Thanh, Ngọc Dũng, Nguyễn Lâm, Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Trung, Hồ Thành Đức, Trịnh Cung, Nguyên Khai, Nguyễn Cao Nguyên, Chế Công Lộc, Trần Kim Hùng, Vĩnh Phối, Lâm Triết…

            Sưu tập mỹ thuật giai đoạn 1975 đến nay Bảo tàng đã phản ánh khá sinh động đời sống mỹ thuật ở Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực phía Nam là sự đa dạng về đề tài và sự phong phú trong khuynh hướng sáng tác.

            Sưu tập tranh đề tài chiến tranh Cách mạng, theo phong cách Hiện thực, là một trong những sưu tập khá hoàn thiện của Bảo tàng. Những ý tưởng, cảm xúc, không khí của một thời khói lửa từ các ký họa chiến trường đã được thể hiện một cách sinh động bằng chất liệu sơn dầu trong các tác phẩm của các họa sĩ Nguyễn Kao Thương, Huỳnh Phương Đông, Xu Man, Lưu Công Nhân, Phạm Thanh Tâm, Cổ Tấn Long Châu, Nguyễn Thanh Châu, Trang Phượng, Phạm Đỗ Đồng, Bùi Quang Ánh, Tam Bạch, Dương Đình Chiến, Nguyễn Thái Bình, Trần Trung Hiếu, Nguyễn Hoàng, Phạm Minh Sáu, Đặng Ái Việt, Phan Oánh, Huỳnh Thị Kim Tiến, Phan Hữu Thiện, Võ Thanh Hoàng, Lê Công Uẩn…

            Mảng đề tài về đời sống văn hóa mang tính nhân văn trong cuộc sống đời thường và công cuộc xây dựng đất nước được phản ánh hiện thực trong các tác phẩm của các họa sĩ lê Thị Kim Bạch, Đặng Thị Dương, Huỳnh Thị Kim Tiến, Lê Thanh Tùng, Tam Bạch, Đỗ Mạnh Cương, Kao Vân Khánh, Vi Quốc Hiệp, Cao Thị Được, Đỗ Thị Ninh, Bằng Lâm, Nguyễn Thị Thanh Thúy, Nguyễn Hữu Phương, Nguyễn Đức Nguyên, Hồng Vân…

                Sưu tập tác phẩm theo hướng Trừu tượng, Siêu thực, Lập thể, Dã thú, Biểu hiện… đã phản ánh khá trung thực bức tranh của mỹ thuật Thành phố hồ Chí Minh từ những năm Đổi mới. Được du nhập vào miền Nam từ trước năm 1975, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành nơi các xu hướng nghệ thuật này bắt đầu khởi sắc trở lại bằng sự khám phá, thử nghiệm của các họa sĩ Quách Phong, Ca Lê thắng, Uyên Huy, Nguyễn Văn Bôm, Nguyễn trung Tín, Hứa Thanh Bình, Nguyễn Tấn Cương, Đỗ Hoàng Tường, Trần Văn Thảo, Đỗ Duy Tuấn, Nguyễn Hoài Hương,…

            27 năm là khoảng thời gian rất ngắn đối với một bảo tàng, lại ra đời rất muộn và thiếu kinh phí thì những khó khăn trong công tác sưu tầm hiện vật là điều tất yếu. Hơn nữa, thời gian đã qua gần 100 năm, đất nước trải qua hai cuộc chiến tranh ác liệt, sự thất lạc, nhất là những tác phẩm trước năm 1975 là sự thử thách không nhỏ đối với một bảo tàng mới được thành lập. Nhưng đến nay, Bảo tàng đã có được bộ sưu tập tranh sơn dầu phản ánh quá trình hình thành và phát triển của tranh sơn dầu Việt Nam nói chung và khu vực phía Nam nói riêng. Đây là một kết quả rất đáng ghi nhận. So với các chất liệu khác như sơn mài, lụa thì Bộ sưu tập dầu tại Bảo tàng không chỉ nhiều hơn về số lượng tác phẩm, mà còn tiêu biểu cho tất cả các giai đoạn của mỹ thuật hiện đại Việt Nam, thuộc nhiều xu hướng nghệ thuật và nhiều đề tài khác nhau. Dù Bảo tàng vẫn còn phải tiếp tục sưu tầm bổ sung nhiều tác phẩm mới hoàn thiện bộ sưu tập này, nhưng một bộ “khung” của bộ sưu tập tranh sơn dầu tại Bảo tàng đã được hình thành và là cơ sở để Bảo tàng xác định kế hoạch, định hướng sưu tầm trong tương lai.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. E.H.Gombrich (1998), Câu chuyện nghệ thuật, biên dịch tiếng Việt: Lê Sỹ Tuấn từ tác phẩm The Story of Art (1950) tái bản lần XV (1989), nxb. Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh. Tr.178-179.

2. Huỳnh Văn Mười (2014), Mỹ thuật đô thị Sài Gòn – Gia Định 1900-1975, nxb. Mỹ Thuật, tr.299-301

3. Mã Thanh Cao (2010), “Công tác sưu tầm tại Bảo Tàng Mỹ Thuật TP.Hồ Chí Minh” Bài viết trong hội thảo “Bảo Tàng với công tác sưu tầm” tổ chức tại Bảo tàng Mỹ Thuật TP.Hồ Chí Minh, tr.1-4.

4. Nguyễn Đình Đăng (2013), “Nền móng của tranh sơn dầu”, tạp chí Mỹ Thuật Nhiếp Ảnh, số 6 (12).

5. Nguyễn Lương Tiểu Bạch (chủ biên) (2005), Mỹ Thuật Việt Nam Hiện Đại, nxb. Hà Nội, tr.20-21, 36, 115.6. Phan Cẩm Thương, Lương Xuân Đoàn (1996), Họa sĩ trẻ Việt nam, nxb. Mỹ Thuật, tr.25-26, 36, 134.