HỌA SĨ CA LÊ THẮNG

HỌA SĨ CA LÊ THẮNG
Ngày đăng: 08/10/2026 12:03 PM

Hoạ sĩ Ca Lê Thắng sinh năm 1949 tại Bến Tre. Thuở nhỏ, ông sớm theo gia đình tập kết ra miền Bắc. Ở tuổi 13, những nét vẽ nguệch ngoạc của ông dần đi vào bài bản dưới sự hướng dẫn của họa sĩ Diệp Minh Châu. Đến khi tốt nghiệp hệ Sơ trung, song song với việc giảng dạy tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, ông tiếp tục theo học hệ Đại học tại đây. Xa quê ngót nghét cũng 20 năm, Ca Lê Thắng trở lại miền Nam và công tác tại trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, cùng với Nguyễn Trung, ông đồng sáng lập và biên tập Tạp chí Mỹ Thuật Thành phố Hồ Chí Minh, đây là một trong số các ấn bản quan trọng được phát hành vào những năm 1990.

Trong quá trình học tập, người họa sĩ luôn trau dồi bản thân, tích cực lĩnh hội các nguồn kiến thức khác nhau: học từ nhận xét của những người thầy; học từ sách vở, tư liệu; lại tìm hiểu thêm lối tạo hình mạnh mẽ của các họa sĩ như Bùi Xuân Phái, Lưu Công Nhân, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng... hoặc xa hơn là thế hệ mỹ thuật Đông Dương. Vì vậy, dù học nghệ thuật dưới nền giáo dục xã hội chủ nghĩa nhưng Ca Lê Thắng không tuân theo các điều lệ hàn lâm. Ông nghiệm ra rằng, việc tìm đúng phương pháp tạo hình không chỉ bộc phát từ cá nhân người sáng tạo mà cần thời gian xây dựng một cách có khoa học hơn, tiếp thu nhiều xu hướng nghệ thuật khác nhau. Nhờ đó, ông sớm thử nghiệm trường phái Lập thể và dần chuyển sang Trừu tượng vào cuối thập niên 80.

Chính sách Đổi mới năm 1986 đã tạo nền tảng cho nước ta mở cửa hội nhập với thế giới. Trong không khí tự do sáng tác ấy, Ca Lê Thắng cùng với các đồng nghiệp thân tín của mình lập nên “Nhóm 10 người” (bao gồm Trần Đình Thảo, Nguyễn Tấn Cương, Nguyễn Thanh Bình, Đỗ Hoàng Tường, Hứa Thanh Bình, Đào Minh Tri, Nguyễn Trung) – đây được xem như một tụ hội có vai trò thúc đẩy dòng tranh trừu tượng ở Sài Gòn đầu những năm 1990. Dù điều kiện vật chất vẫn còn nhiều khó khăn sau giải phóng, mỗi họa sĩ lại thể hiện bản thân thông qua một cách vẽ riêng nhưng cả 10 người đều cùng chung một niềm yêu nghề mãnh liệt. Họ thành lập nhóm với mong muốn được tung tẩy sáng tác mà không đi theo bất kì định hướng hay bị áp đặt bởi điều lệ. Từ những đổi mới này dẫn đến năm 1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh, một triển lãm trừu tượng toàn quốc được diễn ra tại phòng tranh Hoàng Hạc, quy tụ trên 40 nghệ sĩ cả nước đã phần nào khẳng định sự phát triển mạnh mẽ của thể loại này ở Việt Nam, đồng thời là bước khởi đầu cho hàng loạt khuynh hướng đương đại diễn ra sau này. Hội họa trừu tượng Việt Nam dần trở thành một chủ đề tạo lập sự “toàn thắng” về thẩm mỹ nghệ thuật trong bối cảnh nhập nhằng giữa bảo thủ và tiên phong; len lỏi xuất hiện trong các tác phẩm của Trương Bé, Võ Xuân Huy… ở miền Trung; Trần Văn Thảo, Hoàng Tường, Ca Lê Thắng, Nguyễn Tấn Cương, Lê Thánh Thư… từ miền Nam; Đỗ Minh Tâm, Bích Thủy, Phạm An Hải, Lê Anh Quân… tại miền Bắc.

Loạt tác phẩm “Dàn nhạc dân tộc”, “Ngẫu hứng”, “Bướm hoa” (thuộc bộ sưu tập Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh) được sáng tác trong bầu không khí sôi nổi của những năm 90 ấy, đây cũng là những bước đầu tiên chuyển mình sang thể loại trừu tượng của Ca Lê Thắng. Thừa nhận niềm say mê đối với Mark Rothko – một họa sĩ tiên phong trong phong cách Color Field Painting (cũng chính điểm này sẽ ảnh hưởng đến loạt tác phẩm về sau của Ca Lê Thắng). Các tác phẩm trừu tượng biểu hiện cho luồng tư tưởng phức tạp của Rothko và trường phái lập thể đã ảnh hưởng sâu sắc đến tác giả, song chưa cụ thể, rõ ràng. Thoáng đâu đó vẫn là phong vị Á Đông ẩn hiện, cùng với những chiêm nghiệm từ chính ngẫu hứng của bản thân trong quá trình tìm tòi một thể loại mới, mỗi một tác phẩm sẽ là mạch nguồn cho các sáng tạo khác khai thác và phát triển.

Thoạt nhìn, các bố cục tựa như khúc tức hứng nhưng sẽ là sự tổng hợp của một hoặc nhiều vấn đề đan xen, hỗ trợ và tương hỗ cho nhau, đồng thời hài hòa giữa Tây phương và Á Đông. Dù mang tính ngẫu nhiên nhưng chúng ta có thể thấy được các khuynh hướng cơ bản trong thể loại trừu tượng hội tụ: giảm bộ mặt thiên nhiên tới mức tối thiểu, những hình thức được đơn giản hóa triệt để; xây dựng đối tượng nghệ thuật từ những hình thức phi biểu hình cơ bản và sự diễn đạt “tự do” theo ngẫu hứng. Từ đây có thể thấy, Ca Lê Thắng đã không cắt hẳn mối dây nhợ nối với các sự vật cụ thể nhưng cũng không giữ lại các chi tiết tả kể về đối tượng được mô tả. Những hình ảnh thực tế về thiên nhiên, con người được chắt gạn thành các sơ đồ hình học. Các ý niệm cũng không biểu hiện rõ ràng mà được trừu tượng hình học đi tới tối giản về ngôn ngữ thể hiện. Những nền tảng học thuật được xáo trộn một cách tùy hứng, nền móng trừu tượng mới mẻ được dựng xây đồng thời mở rộng biên giới của sáng tạo thị giác. Mặt tranh lúc này chỉ còn lại các yếu tố thị giác nguyên thủy nhất: màu, nét, khối, hòa sắc cùng không gian, nhịp điệu. Tất cả cùng tượng trưng cho một loại tình cảm nào đó, chúng tụ họp và chia cắt mặt tranh theo ý đồ thiết kế, tổ hợp thành kết cấu kiểu ký hiệu.

Về kỹ thuật, giữa hình và nền có sự phân định rõ ràng đem lại sự đối nghịch cho người xem:

 - Hình: có tính nhô nổi, lớp màu đầy chặt; dày đặc các hình kỷ hà và nét; hình dạng rõ ràng, có đường bao hoặc đường ranh giới.

- Nền: lớp màu mỏng, cảm giác lùi hẳn về sau, không có cảm giác đầy chặt, không có ranh giới ổn định.

Các tác phẩm là những khoảnh khắc ý tưởng chợt lóe lên trong đầu, khiến tác giả thực hành sáng tác tức thì mà không cần phác thảo, mỗi hình thức trong bố cục sẽ dựa vào cảm nhận người họa sĩ lúc ấy. Dù không miêu tả điều gì rõ rệt nhưng vẫn hàm chứa nội dung và là hành trình cho Ca Lê Thắng tìm kiếm cái sai sót.

Từ bỏ những cấu trúc hình học của giai đoạn chịu ảnh hưởng lập thể, Ca Lê Thắng bước hẳn sang lối vẽ bán trừu tượng với tác phẩm “Cơn giông” sáng tác năm 2007, kích thước 100 x 150 cm (thuộc bộ sưu tập Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh); đây được xem như là tiền thân cho loạt tranh Mùa nước nổi sau này của họa sĩ. Hội họa về vùng ký ức Nam Bộ bắt đầu từ những cơn giông, trảng đất ăm ắp nước cùng đường chân trời thấp, mang theo nhịp điệu sâu lắng trống trải, tiết tấu dâng tràn sinh sôi.

Tuy họa sĩ Ca Lê Thắng có quê Bến Tre nhưng ông sinh ra tại Đồng Tháp Mười vào một mùa nước nổi thênh thang. Hàng năm, từ tháng 7 đến tháng 11 âm lịch, nước từ thượng nguồn Mekong đổ về vùng đồng bằng sông Cửu Long, mực nước cứ thế dâng lên... người ta gọi đó là mùa nước nổi. Những mùa nước lên bao giờ cũng đem tới sức sống mới, sự sinh động cho cả vùng châu thổ rộng lớn, bồi đắp phù sa, đem lại nguồn sản vật phong phú… Ngày thơ ấu của Ca Lê Thắng trải dài qua những buổi sáng tháng bảy nước nhảy khỏi bờ để lại thấy nước mấp mé ở sát giường ngủ, để vấn vương mùi cỏ dại mà tác giả đặt dấu chân mình qua. Ấn tượng này theo ông đến cả khi học tập ngoài Bắc. Sau năm 1975, họa sĩ đã liên tục vẽ thực tế tại Đồng Tháp Mười, ghi chép tài liệu và nuôi dưỡng cảm hứng đề tài về những con nước lên. Ông khai thác nhiều yếu tố trong mảnh ký ức ấy và phát triển thành hội họa. Bắt đầu từ những gam màu nóng của đất, màu trầm lạnh từ sóng cuộn theo phù sa,..

Mặc dù mang theo vẻ đẹp thơ mộng hiếm có, nhưng mùa nước nổi không dễ để tạo hình như phong cảnh đồi núi bình thường với đặc trưng khung cảnh nhập nhằng giữa bầu trời mênh mông, đồng bằng ngập dưới nước, lại lúp xúp những rặng cây. Trong suốt quá trình tìm tòi, nghiên cứu, bản thân Ca Lê Thắng nhận ra rằng đề tài mùa nước nổi rất phù hợp với tranh khổ dài, như thể chiếu lại cảnh hoài niệm trên một màn ảnh rộng. Từ tinh thần đó, ông tạo ra vô số bố cục rộng rãi với trời, đất, mây, nước...

Đến lúc này ta mới thấy rõ nét những âm hưởng được tác động từ họa sĩ Mark Rothko, khi “Cơn giông” là tác phẩm có hình chữ nhật khổ lớn và sử dụng màu sắc đơn giản. Ngôn ngữ thị giác nay lại được chắt lọc từ tạo hình trang trí xuống còn trừu tượng tối giản. Không còn những nét dài-ngắn, dày-mảnh, gấp khúc-uốn lượn, liền lạc-đứt khúc, hay chia mặt tranh thành các mảng hình chắc khỏe. Thay vào đó là sự tập trung tuyệt đối vào chuyển động của các trường màu, những mảng màu loang nhòe được bố trí song song với nhau, giải rộng theo chiều ngang, có lớp mỏng lớp dày, lại có sự thay đổi đặc-loãng…

Gam màu tiết giản, người họa sĩ cũng đã loại dần các sắc có thể gây tương phản mạnh, dù là đỏ hay xám nhưng mang tính tương đồng sắc độ. Tất cả giúp cho tác phẩm hội tụ đủ các dải màu đối lập sáng-tối và nóng-lạnh nhưng tổng thể vẫn hòa cùng một cường độ. Về kỹ thuật, Ca Lê Thắng kết hợp nhiều tầng màu như chất liệu sơn mài và áp dụng độ trong trẻo của màu nước; cứ thế nhiều lớp sơn được pha loãng, đặt trên những tông màu còn sót lại từ bậc trước, lớp sau để lộ lớp nền bên dưới. Búp pháp tung tẩy của ông đã tạo ra ngẫu nhiên nhưng cũng có sự tính toán cụ thể; các mảng màu được làm nhòe các cạnh, mép biên mềm mại, không đều; tác phẩm mang cảm giác chuyển động liên tục, cơn giông cứ thế mà lờ mờ, nhấp nháy trườn tới.

Có thể thấy, Ca Lê Thắng đã không cố gắng phác họa một cảnh sắc cụ thể, cách ông tái hiện giấc mơ giúp chúng ta cảm nhận đồng thời mặt nước phẳng lặng trước khi cơn giông ập đến, không gian cuồng phong mờ mịt cùng tiếng sóng vỗ tràn ra khỏi mặt tranh. Không chỉ là mùa nước nổi, gió bưng biền, mùi phù sa châu thổ, bút pháp thể hiện của ông đem đến cho người thưởng lãm cảm giác lâng lâng, chao đảo, mập mờ, bàng bạc đầy ắp khắp mặt tranh.

Người họa sĩ quan niệm, một tác phẩm được sáng tác chỉ nhằm mục đích thể hiện khả năng, kỹ thuật thì đó cũng chỉ là hào nhoáng ban đầu, những bóng bẩy ấy không tạo xúc cảm cho người xem, điều này đã được thể hiện trong trừu tượng Ca Lê Thắng. Vậy nên mỗi bút pháp, kỹ thuật mà ông sử dụng đều phải xuất phát từ tình cảm bản thân, cũng như chứa đựng được nỗi buồn niềm vui. Ông hướng đến tình cảm người họa sĩ, xa hơn là cái đẹp về chân – thiện – mỹ trong hội họa. Những trường màu vừa gần vừa xa, gần gũi nhưng cũng khó để nắm bắt, đem đến thứ âm thanh vừa trầm lại vừa trong trẻo, đây là những nỗ lực thể hiện cái chân chất quê hương của họa sĩ Ca Lê Thắng theo cách hiện đại nhất.

Như Mark Rothko đã từng nói: “Một bức tranh không phải là hình ảnh về một kinh nghiệm mà chính nó là một trải nghiệm”. Vì vậy, dù là “Cơn giông”, “Bướm hoa” hay ít phút “Ngẫu hứng” cũng đều là hành trình họa sĩ Ca Lê Thắng sử dụng các yếu tố thị giác nhằm thể hiện những thiệt tình, ngẫm nghĩ của bản thân. Thành tựu ngày hôm nay được xây dựng từ những hào sảng ân tình ông đặt để trong bút pháp chắc chắn và những trường màu đa hình lắm nghĩa. Cả ở quá khứ, hiện tại hay tương lai, Ca Lê Thắng sẽ không ngần ngại lục tìm vùng ký ức; từ đó biểu hiện thứ tình cảm của bản thân đã trừu tượng hóa. Nghệ thuật cũng như lịch sử, luôn là một sự tiếp diễn không hồi kết, và hội họa của Ca Lê Thắng sẽ luôn như vậy, lấy sự không hài lòng về những gì đã đạt được làm mục tiêu tiến về trước, cứ thế lầm lũi, tìm tòi cho mình một nét riêng.

Tác phẩm của họa sĩ Ca Lê Thắng thuộc bộ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật

Thành phố Hồ Chí Minh

 

2021 © Bảo tàng Mỹ thuật Hồ Chí Minh. Design by Nina.vn
  • Đang online: 15
  • Tuần: 3152
  • Tháng: 6774
  • Tổng truy cập: 1190447