HỌA SĨ LÂM CHÍ TRUNG
KÝ ỨC ÊM ĐỀM TRONG BẢN THỂ SƠN MÀI
Mỗi sáng tạo nghệ thuật không chỉ là kết quả của quá trình lao động cá nhân, mà còn là nơi cô đọng tư duy thẩm mỹ, trải nghiệm sống và nhân sinh quan của người nghệ sĩ. Ở đó, hình ảnh không đơn thuần để nhìn ngắm, mà còn là phương tiện cho họa sĩ suy tư về chính mình và vạn vật. Trong hội họa sơn mài của Lâm Chí Trung, chất liệu trở thành cầu nối cho những tâm tình ấy với đời sống xung quanh, tạo nên dấu ấn riêng biệt cho từng tác phẩm.
Họa sĩ Lâm Chí Trung sinh năm 1973 tại Đồng Tháp, tốt nghiệp trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh chuyên ngành Sơn mài, họa sĩ dành nhiều năm theo đuổi nghệ thuật sơn mài và từng bước xây dựng phong cách sáng tác riêng. Trong bối cảnh đương đại có xu hướng nghiêng về hiệu ứng thị giác và tính thời sự, ông kiên trì xây dựng một thế giới tạo hình nhất quán, nơi sơn mài không chỉ là một chất liệu truyền thống mà được tái cấu trúc nhằm mở rộng khả năng biểu đạt, dung chứa chiều sâu cảm xúc và tư duy triết mỹ.
Xuyên suốt các tác phẩm là tình cảm được tác giả đặt để trong từng rặng cây, con nước, cánh cò; những tiếc nuối khi bãi bờ hóa phố cùng hơi ấm sum vầy từ đời sống gia đình. Trong các sáng tác của mình, Lâm Chí Trung không hướng đến việc tái hiện nguyên cảnh vật mà lựa chọn lược giản và tổ chức lại hình ảnh theo cảm nhận cá nhân. Khi thiên nhiên hiện diện trên mặt tranh, nó không còn nguyên vẹn dáng vẻ thô sơ ban đầu mà đã được cô đặc, lắng đọng theo trật tự của cảm nhận cá nhân. Mỗi lớp sơn, mỗi nhịp màu như tích lũy vô vàn kỉ niệm, gợi mở nỗi khắc khoải về quê hương và những gì đang khuất dần vào miền xa ngái.
Trong thế giới sơn mài ấy, thiên nhiên không hiện lên như một thực tại có thể nắm bắt, mà tựa như một miền ký ức được đánh thức. Qua hai tác phẩm “Cây vông nem trổ bông” và “Hồ Trị An mùa khô” (thuộc bộ sưu tập Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh), ta có thể thấy rõ cách người họa sĩ tái tạo cảnh vật bằng những lớp màu được mài giũa tỉ mỉ.
Tác phẩm “Cây vông nem trổ bông”, sáng tác năm 2003, kích thước 85 x 120 cm, diễn tả một khoảng vườn quê thân thuộc, nơi mỗi góc xanh đều hiện lên trong những chi tiết vụn vặt nhất. Giữa không gian yên bình, cây vông nem trổ bông trở thành điểm nhấn cho khu vườn thêm phần sống động.
Tiền cảnh tác phẩm thể hiện vùng cây lá rậm rạp với tầng chi tiết dày đặc; trung cảnh nổi bật thân cây sáng màu cùng tán lá tương phản sắc độ; hậu cảnh mở ra trảng đất trống và những gốc cây lùi dần về xa. Bố cục ngang được tổ chức chặt chẽ; kết hợp tạo lập chiều sâu không gian bằng sự chồng lớp thị giác, hạn chế phụ thuộc phối cảnh hiện thực. Vì vậy, tổng thể tác phẩm có tính cân bằng nhưng vẫn giữ được cảm giác tự nhiên, giàu sinh khí.
Ở “Cây vông nem trổ bông”, ta không bắt gặp thiên nhiên được mô phỏng theo quy luật ánh sáng tự nhiên. Thay vào đó, cảnh vật được tạo hình mang tính trang trí ước lệ. Thân cây dựng thẳng đứng ngay tại trung tâm đã xác lập điểm nhấn rõ ràng; tán lá được cách điệu thành những mảng phẳng lặp lại như một điệp khúc hoa văn, tạo nhịp điều hướng khắp mặt tranh. Điều này cho thấy rằng khi thiên nhiên không còn được tái hiện theo lối tả thực thuần túy, cảnh vật lại càng trở nên gần gũi. Bởi những dĩ vãng một thuở thường lưu trữ nhịp điệu, màu sắc và cảm giác khái quát hơn là đặc tả chi tiết.
Tác phẩm đem đến một bảng màu trầm ấm với nâu, vàng đất, xanh rêu; điểm xuyết trắng từ vỏ trứng và ánh son của hoa. Hòa sắc ấy không rạng rỡ phô bày mà âm thầm khuếch tán, như hơi thở chậm rãi của một miền quê còn được neo giữ trong tâm tình của tác giả. Cứ thế mỗi lớp màu như một lớp thời gian, được mài xuống, rồi lại hiện lên.
Về chất liệu, tác giả cho thấy sự tiết chế trong kỹ thuật phủ, mài, cẩn trứng, từ đó tạo nên chiều sâu thị giác cùng cảm giác lắng đọng vật chất của thời gian. Dù thân cây được cẩn trứng toàn bộ, nhưng lại không hiển lộ hoàn toàn mà chỉ thấp thoáng dưới lớp bạc và sơn cánh gián được rà mỏng. Vì thế, hoa văn rạn của vỏ trứng ánh lên sắc nâu hung như màu đồi mồi. Các mảng cẩn trứng được sử dụng tiết chế nhưng phân bố dàn trải, giúp cây vông nem vừa nổi bật vừa hòa vào tổng thể một cách nhịp nhàng. Tác phẩm đã không kể một câu chuyện cụ thể, mà gợi nên bầu không khí hoài niệm, nơi khu vườn quê được tái hiện bằng tình cảm yêu thương và gắn bó. Ở đó, vạn vật đều khẽ khàng lay động như được phủ một làn gió nhẹ. Để rồi ta có thể thấy một hồi ức nở hoa trong tĩnh lặng.
Tiếp nối mạch cảm xúc về tự nhiên, Lâm Chí Trung tiếp tục khai thác phong cảnh quê hương qua “Hồ Trị An mùa khô” (2016), kích thước 80 x 120 cm. Nếu “Cây vông nem trổ bông” là bản hòa ca của sự sống, thì “Hồ Trị An mùa khô” sẽ cho ta thấy sự chuyển dịch từ thiên nhiên sinh động sang một không gian khô cằn, nén chặt và đầy biến động. Tác phẩm ghi lại khung cảnh Hồ Trị An (Đồng Nai) trong mùa cỏ vàng, nước trong xanh và sỏi đỏ. Có thể thấy, thiên nhiên ở đây không còn xanh tươi mà hoang hóa như thể đã bị thời gian hun đốt đến bạc màu.
Bố cục tác phẩm được chia ba lớp không gian rõ rệt. Tiền cảnh nặng nề với khối bờ đất lớn đặt lệch trung tâm. Trung cảnh dày đặc những thân cây khô và hai chiếc thuyền thấp thoáng. Hậu cảnh mở ra một dải trời vàng thoáng đãng cùng đường đồi xa xăm. Toàn bộ sự vật được sắp xếp theo cấu trúc ngang – dọc: những đường ngang kéo dài từ vạt cỏ, dãy đồi đến mặt hồ dẫn ánh nhìn trượt theo chiều rộng mà không bị ngắt quãng; nhằm phá vỡ sự đơn điệu đó, các đường dọc, đường chéo đan cắt của thân cây khô đã được thêm thắt khéo léo. Vì vậy, toàn bộ trường thị giác như đang bị kéo giãn đến giới hạn, tạo nên cảm giác vừa mênh mông mà cũng quạnh vắng.
Khác với sự sinh động ở tác phẩm trước, thiên nhiên ở đây được tổ chức thành những mảng lớn, chắc và dồn nén; cây cối giản lược thành hệ thống nét chồng lấp. Sự bình yên tác phẩm đem lại không hoàn toàn yên ắng mà ẩn chứa một nỗi trống trải kéo dài, gợi tả dấu tích của nhiều lần giông gió.
Tác giả tiếp tục thể hiện một cái nhìn tương đồng với hòa sắc nóng, chủ đạo những màu vàng cháy, nâu cánh gián, xanh đậm. Kết hợp sự tương phản sắc độ giữa bầu trời vàng và mặt nước xanh thẳm đem đến cảm giác khô hạn, oi nồng. Đối lập với các mảng hình dày đặc hiệu ứng, vẫn có những mảng được xử lí tối giản với nhiều lớp màu có độ bão hòa thấp, ít chênh lệch, độ biến chuyển tinh tế. Như vậy vừa tránh được tình trạng bị đặc bột màu vừa đạt được sự cân bằng giữa đặc và rỗng, khiến các khoảng trống trở nên giàu giá trị hơn. Chất liệu sơn mài vẫn hiện diện rõ nhưng không thiên về vẻ trang trọng mà có xu hướng thô ráp, phù hợp tinh thần tác phẩm. Việc sử dụng bạc dán kết hợp bạc rây và những mảng thếp vàng giúp bề mặt tranh sinh động, gia tăng độ rực rỡ về sắc độ lẫn chiều sâu tổng thể.
Đặt hai tác phẩm cạnh nhau có thể nhận thấy sự nhất quán trong ngôn ngữ tạo hình của Lâm Chí Trung. Dù khai thác những không gian thiên nhiên khác nhau, họa sĩ vẫn duy trì cách tổ chức mảng hình, tiết tấu trang trí và xử lý chất liệu theo cùng một tư duy thẩm mỹ. Với Lâm Chí Trung, trang trí không phải lớp vỏ hình thức mà là công cụ tái thiết lập tự nhiên bằng tư duy biểu đạt rất riêng. Đáng chú ý là sự vắng bóng con người hoàn toàn và thiên nhiên trở thành chủ thể trung tâm. Song thiên nhiên vẫn đầy ắp hơi thở đời sống; bởi từng nhánh lá, bờ đất, mặt nước đều mang dấu vết của sự quan sát, gìn giữ và yêu thương.
Đối với người họa sĩ bình dị ấy, cuộc đời đến sau cùng chỉ còn lại hai ngã rẽ tách biệt: hoặc sống trong đủ đầy, sung túc nhưng mãi chẳng thể gọi tên được đam mê thật sự của mình; hoặc sống trọn vẹn với những điều mình yêu, dẫu đôi phần trở ngại nhưng mỗi ngày đều được nuôi dưỡng tâm hồn bằng niềm mê say bền bỉ. Và có lẽ, đó là món quà đẹp đẽ nhất mà một đời người có thể chạm tới. Cách nhìn tích cực và sâu sắc này cũng hiện diện trong từng bức tranh, trong mỗi bài giảng và lời động viên ông dành cho học trò. Lâm Chí Trung cho rằng các tác phẩm sơn mài luôn trong trạng thái chưa hoàn thiện; người vẽ vẫn hoài suy nghĩ cần chỉnh sửa thêm kể cả khi tranh đã triển lãm. Chính vì thế, ông thường nhắc nhở học trò có những tác phẩm mất nhiều năm mới hoàn thành, nhưng sáng tạo cũng cần biết đâu là điểm dừng, không nên quá chạy theo hiệu ứng kỹ thuật hay đòi hỏi sự hoàn hảo tuyệt đối. Những điều ông nhắn gửi học trò không chỉ lẩn quẩn ở chuyện làm nghề, mà còn ở cách cảm nhận cuộc sống. Trong quan niệm của ông, người học vẽ là người may mắn, bởi họ có đôi mắt nhìn ra cái thi vị ngay trong những điều tầm thường nhất. Nhờ vậy, bao thế hệ học trò đã cảm nhận được sự gắn kết giữa nghệ thuật và đời sống, đồng thời nhận ra giá trị của việc quan sát và trân trọng những vẻ đẹp nhỏ nhặt quanh mình.
Thông qua ngôn ngữ tạo hình và chất liệu sơn mài, họa sĩ Lâm Chí Trung đã kiến tạo một thế giới giàu tính cá nhân. Dung hòa giữa truyền thống gặp gỡ tinh thần hiện đại, giữa yếu tố trang trí và sắc thái biểu hiện. Các tác phẩm phong cảnh của ông không hướng đến sự lãng mạn hóa hay phù hoa hoành tráng mà là những biến đổi đương thời được lưu giữ trường tồn trên một bề mặt vật chất. Không minh họa thông điệp môi trường hay lên án trực diện, ông chọn cách gợi mở để người xem tự cảm nhận sự mong manh của tự nhiên và giá trị của những gì đang dần phai mờ.
Dẫu đã đi qua nhiều vùng đất, Lâm Chí Trung vẫn chưa thôi tìm kiếm cái hữu tình trong rặng cây, ngọn cỏ,.. Quê hương vẫn còn đó, mênh mang những vẻ đẹp chưa thể gọi tên trọn vẹn nhưng không vì vậy ông gò ép bản thân trong sự cầu toàn mà lẳng lặng tích tụ qua từng lớp. Hội họa nói chung và chất liệu sơn mài nói riêng trở thành phương thức giúp người họa sĩ nâng niu cũng như gìn giữ vòng đời cho chính những kí vãng mong manh. Mỗi bề mặt thô ráp dần bằng phẳng hay ánh kim vàng bạc ẩn giấu đều là dấu vết của thời gian lao động hăng say. Hành trình sáng tác là những cuộc rong ruổi dạo chơi mà họa sĩ Lâm Chí Trung sẽ mãi an nhiên, kiên tâm đi tiếp con đường của riêng mình – nơi giá trị chân - thiện - mỹ được bảo vệ bằng cả trái tim.
BẢO TÀNG MỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Phòng Nghiên cứu – Sưu tầm
Nguyễn Thị Thùy My


TÀI LIỆU THAM KHẢO
Lý lịch khoa học tác giả - tác phẩm Lâm Chí Trung lưu trữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.