HỌA SĨ NGUYỄN TRUNG TỪ NỀN TẢNG HÀN LÂM ĐẾN TỰ DO TRONG SÁNG TẠO

HỌA SĨ NGUYỄN TRUNG TỪ NỀN TẢNG HÀN LÂM ĐẾN TỰ DO TRONG SÁNG TẠO
Ngày đăng: 03/08/2026 10:21 AM

Nền nghệ thuật Sài Gòn đã phát triển qua những giai đoạn quan trọng, thể hiện sức sống và sự đa dạng dưới nhiều hình thức nghệ thuật. Trong đó, lớp họa sĩ, điêu khắc gia thuộc Hội Họa sĩ Trẻ đã trở thành một nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển mình mạnh mẽ của nghệ thuật tạo hình Việt Nam vào những năm 60 và 70. Có thể kể đến những tên tuổi như: Cù Nguyễn, Đỗ Quang Em, Nguyễn Trung, Mai Chửng, Nguyễn Lâm, Hồ Hữu Thủ, Nguyên Khai, Trịnh Cung. Các nghệ sĩ trẻ sớm nhận thức rằng việc mở rộng biên độ sáng tạo và xác lập bản sắc thị giác riêng là điều kiện tất yếu để hội nhập thế giới mà không hòa tan. Với tinh thần tự đổi mới và ý thức trách nhiệm, họ đã góp phần tạo điều kiện cho hội họa Việt Nam tiếp xúc trực tiếp với các trào lưu mỹ thuật quốc tế, tiếp nhận nhiều hệ tư tưởng thẩm mỹ và tiếp cận các nguồn thông tin đa chiều. Sự chủ động trong việc tái cấu trúc ngôn ngữ tạo hình vừa giúp gìn giữ những hệ giá trị thẩm mỹ cũ, vừa cho phép họ tìm kiếm những khả năng biểu đạt tân tiến phù hợp với bối cảnh xã hội luôn biến chuyển. Qua đó, góp phần hướng tới sự phát triển bền vững của nền hội họa Việt Nam.

Họa sĩ Nguyễn Trung sinh năm 1940, theo học tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn (từ năm 1958 đến 1961). Mặc dù không hoàn tất chương trình đào tạo, giai đoạn học tập này vẫn đặt nền tảng kỹ thuật hàn lâm cho quá trình sáng tác của ông. Đầu thập niên 1960, Nguyễn Trung nhanh chóng có những thành công đầu tiên trong sự nghiệp qua các giải thưởng hội họa quan trọng tại Triển lãm Mùa xuân (1961, 1963). Không chỉ hoạt động sáng tác, họa sĩ còn giữ vai trò then chốt trong đời sống mỹ thuật đô thị miền Nam, từng đảm nhiệm chức Chủ tịch Hội Họa sĩ Trẻ ở Sài Gòn và là thành viên nòng cốt của “nhóm 10 người” tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sau năm 1975, Nguyễn Trung còn cùng Ca Lê Thắng sáng lập và biên tập tờ Tạp chí Mỹ thuật của Hội Mỹ thuật Hồ Chí Minh từ năm 1991 – 1997, góp phần lan tỏa những giá trị nghệ thuật mới, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của mỹ thuật hiện đại tại miền Nam.

Sinh ra tại tỉnh Sóc Trăng – không gian đồng bằng với cấu trúc thị giác của hai mùa mưa nắng – mùa mưa nhuộm xám bầu trời và mặt ruộng, mùa gặt lại được bao phủ bởi sắc vàng rực rỡ, thơm ngát; Nguyễn Trung sớm tiếp nhận trải nghiệm thị giác đặc thù này. Họa sĩ từng chia sẻ rằng chính sự “kiệm màu nhưng tương phản” ấy của quê hương có lẽ đã góp phần hình thành cảm quan tiết chế màu sắc trong tranh của mình, đồng thời khiến ông gần gũi với tính cách đạm bạc của tranh thủy mặc Trung Quốc cũng như sự khắc khổ trong hội họa Đức. Ảnh hưởng này thể hiện rõ qua việc hệ màu thường gặp trong tranh Nguyễn Trung mang vẻ thanh bạch với những phối màu óng ánh chất xà cừ, pha lê, rực rỡ ánh kim; ông thường chồng nhiều lớp màu có độ bão hòa thấp, ít chênh lệch nhằm tạo nên các không gian bồng bềnh sắc độ. Cứ thế màu xanh ngọc của biển hòa với dải màu đỏ cam từ vầng thái dương, mặt đất nâu vàng bỗng chuyển hóa thành bầu trời xanh thẳm; hòa sắc nóng chuyển sang sắc thái trầm lạnh một cách nhuần nhị tự nhiên, tựa như cầu vồng nối liền trời đất.

Song song với những ảnh hưởng thị giác từ môi trường sống, việc đọc sách – đặc biệt là đọc đa dạng thể loại trở thành một cách thức tự học đối với Nguyễn Trung. Đọc không chỉ tích lũy tri thức mà còn giúp ông chống chọi lại sự cô đơn, đồng thời mở rộng nền tảng mỹ học cho thực hành hội họa. Như vậy, có thể thấy quá trình hình thành tư duy nghệ thuật của họa sĩ đã chịu tác động từ nhiều hệ tư tưởng nghệ thuật khác nhau. Trong giai đoạn đầu, Nguyễn Trung thử nghiệm với khuynh hướng trừu tượng lãng mạn (abstraction lyrique), nơi hình ảnh thiên nhiên và thiếu nữ được tinh lọc đến mức chỉ còn gợi ý thị giác ẩn hiện trên một nền tranh tông màu lạnh. Ông cũng từng vận dụng nguyên lý sáng – tối của hội họa Phục hưng phương Tây nhằm tổ chức cấu trúc ánh sáng, nhấn mạnh chiều sâu và trọng lượng hình khối. Tuy nhiên, về sau ông chủ động rời xa nhiều nguyên tắc của mỹ thuật châu Âu để tiến dần đến tinh thần thẩm mỹ phương Đông. Đặc biệt, quan niệm của họa sĩ – thiền sư Thạch Đào về việc “mượn cái cũ để sáng tạo cái mới” đã gợi mở cho ông một cách sáng tạo dựa trên sự hòa hợp giữa con người và tạo hóa.

Về phương diện tạo hình, phần lớn tác phẩm của Nguyễn Trung mang cấu trúc thị giác tương đối khép kín, qua đó hướng ánh nhìn người xem vào một trạng thái chiêm nghiệm lãng đãng. Họa sĩ không tổ chức bố cục theo quy tắc quen thuộc như trục trung tâm hay tỉ lệ chia ba; thay vào đó, các mảng hình được sắp đặt theo thế cân bằng nội tại. Những mảng hình lớn thường chiếm ưu thế, ít cạnh sắc sảo và thiên về dạng hữu cơ; ranh giới giữa các hình mềm và nhòe, gần như tan vào nhau. Bên cạnh đó, màu sắc không phải là yếu tố then chốt, điều ông đặc biệt chú trọng là ánh sáng mà ngay cả chính tác giả cũng khó lý giải nguồn gốc thứ ánh sáng dịu dàng, thanh khiết và trong suốt ấy. Khi nhìn vào tranh, nguồn sáng dường như đến từ bên ngoài, nhưng trong quá trình sáng tác, người họa sĩ cảm nhận nó lóe lên từ những mách bảo tâm tưởng, giúp ông giải tỏa mọi bế tắc sáng tạo. Thứ ánh sáng ấy lan tỏa bàng bạc, tinh tế và huyền nhiệm; khi thì viền nhẹ quanh khuôn mặt nhân vật, khi lại ẩn hiện dưới áng mây, tà áo. Nhờ đó, không gian trong tranh ông hiếm khi có thể xác định cụ thể mà luôn gợi cảm giác bay bổng, tượng trưng và phảng phất sắc thái siêu thực, làm cho thế giới hội họa của ông trở nên tinh khôi, cao nhã và thoát tục.

Nguồn sáng tạo của Nguyễn Trung đến từ nhiều điều vụn vặt trong cuộc sống thường nhật. Từ những mắc kẹt vô biên trong cõi mộng, những xao động về kiếp người cho đến muôn vàn rung cảm về thiên nhiên cảnh vật. Tất cả các căn tính bản địa ấy dung hòa cùng những ảnh hưởng Đông – Tây đã được cá thể hóa và hình thành nên hai xu hướng nghệ thuật trong quá trình hoạt động nghệ thuật của họa sĩ, biểu hình và phi hình. Hai phương thức sáng tạo này luôn xoay chuyển, tựa như sự biến đổi trạng thái cảm xúc, phản ánh chuyển động tinh thần của họa sĩ qua từng thời kỳ. Dù có khác biệt về hình thức bên ngoài, các tác phẩm luôn mang sự chiêm nghiệm sâu sắc, tinh thần phương Đông được đan cài ý nhị trong cấu trúc hiện đại – kết hợp nhuần nhuyễn giữa triết lý và kỹ thuật, giữa cá nhân và văn hóa.

Thời thơ ấu của Nguyễn Trung gắn liền với khu chợ Sóc Trăng nằm dọc cửa sông – nơi mà “văn hóa chợ cá” trở thành một phần thân quen trong đời sống thường nhật. Về sau, khi sống tại Sài Gòn, họa sĩ vẫn thường lang thang vào những khu chợ tất bật, thõng tay dạo bước giữa các hàng cá thân thuộc, mê say quan sát đủ loại cá khác nhau. Mùi tanh nồng dân dã khiến tác giả hồi tưởng da diết những hồi ức tuổi thơ lém lỉnh sâu đậm. Dẫu theo nhịp sống hiện đại, nhiều vẻ đẹp xưa cũ trôi dần vào quên lãng nhưng những hương vị trong cuộc đời bình dị ấy vẫn trở thành một phần kỉ niệm bền bỉ, một không gian văn hóa vô hình nhưng ấm áp và chân chất, chứa đựng đầy đủ các cung bậc hỉ, nộ, ái, ố của đời người.

Tác phẩm “” (thuộc bộ sưu tập Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh), được sáng tác vào năm 1989, kích thước 38 x 38 cm, là một trong các tác phẩm đầu tiên tác giả Nguyễn Trung khai thác hình tượng cá. Trong thế giới tạo hình của ông, cá xuất hiện như một mô típ giàu tính biểu tượng, mang chiều sâu nội tâm nhất định. Cá trong tranh thường không được thể hiện theo lối tả thực mà được giản lược thành những khối hình mềm mại, lướt trên những không gian phi thực mờ ảo. Tác phẩm “” cũng đi theo chiều hướng tương tự với một bố cục tối giản: hai cá thể được đặt song song theo phương thẳng đứng, tựa như đang lơ lửng giữa một khoảng tĩnh lặng. Về kỹ thuật, tác phẩm thể hiện sự tương phản rõ rệt giữa chất liệu của chủ thể và nền. Hình cá được xử lý bằng lớp màu dày, có tính nhô nổi, gần với kỹ thuật impasto; trong khi đó phần nền được xử lý mỏng hơn, chuyển sắc tinh tế giữa hai màu cam đất và xanh xám. Những mảng sáng trên thân cá không xuất phát từ một nguồn sáng cụ thể mà mang cảm giác phát quang nội tại, tạo nên sự đối nghịch với không gian xung quanh. Nhờ đó, hình tượng cá vừa mang trọng lượng vật lý, vừa gợi cảm giác hiện hữu về mặt tâm lý, trong khi nền phía sau trở nên mơ hồ và ảo diệu. Trong không gian đặc thù ấy, cá dường như không còn tồn tại trong môi trường nước tự nhiên, mà đang trôi trong dòng chảy màu sắc và xúc cảm của riêng tác giả. Vì vậy, cá không chỉ là một đề tài đơn thuần mà còn có thể xem là ẩn dụ cho hành trình hòa nhập của con người vào không gian mênh mông của cái đẹp.

Trong tiến trình thực hành nghệ thuật của Nguyễn Trung, hình tượng người phụ nữ là một mô típ nổi bật và ông thường khai thác đề tài này qua nhiều chủ đề khác nhau. Nguyễn Trung xây dựng những tổ hợp hình ảnh như thiếu nữ và hoa, thiếu nữ với cá, hay mẹ con gắn với biển cả,..  Và đâu đó, ta còn bắt gặp bóng dáng thiếu nữ Chăm đội khăn hoặc nâng cả giỏ sen trên đầu, họ đặt bước đi nhẹ nhàng, trôi theo một nhịp điệu mơ màng. Điểm đáng chú ý trong tạo hình nhân vật của Nguyễn Trung là sự biến điệu có chủ ý về hình thể. Các nhân vật thường có cổ dài, dáng dấp thanh mảnh, vai thu hẹp, lưng cong mềm mại; những ngón tay thanh tú đôi khi mang dáng vẻ như đang múa, khi lại cầm hoa sen hoặc dâng trái quả. Tỉ lệ giải phẫu không tuân theo tự nhiên mà được thu ngắn, kéo dài và giản lược triệt để nhằm nhấn mạnh cấu trúc biểu đạt. Nguyễn Trung sử dụng và biến dạng hình thể như một phương tiện biểu đạt nội tâm, đồng thời gợi nên cảm giác biệt lập mong manh. Gương mặt nhân vật đạt đến sự hài hòa lý tưởng, biểu cảm thư thái, an tịnh; đôi mắt khi mở to, lúc khép nhẹ, không nhìn trực diện vào người xem với thái độ thách thức, mỉa mai hay gợi dục mà mang theo ánh nhìn xa xăm, thoáng nét u trầm trong khóe mắt. Vượt lên trên vẻ đẹp hình thức, các tác phẩm về đề tài phụ nữ của tác giả còn hàm chứa một tinh thần trân trọng và giải phóng nhưng vẫn giữ phong vị đằm thắm, kín đáo. Dù được đặt trong những bối cảnh khác nhau, các nhân vật trong tranh Nguyễn Trung luôn thể hiện nét đẹp trong sáng và bình an – những phụ nữ thong dong trong thế giới riêng của mình.

Các tác phẩm sơn dầu “Thiếu nữ và hoa”, “Một tòa thiên nhiên” , “Thiếu nữ”, “Áo trắng” (thuộc bộ sưu tập Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh) là những minh chứng cho cách biểu đạt này. Tác giả có xu hướng giản lược, tiết chế tối đa các chi tiết vụn, làm mờ ranh giới giữa chủ thể và không gian, đường viền nhân vật đôi khi được nhấn bằng nét đậm mảnh. Mặc dù sáng tác ở những thời điểm khác nhau, các tác phẩm đều toát ra cảm giác nhân vật chỉ tồn tại lặng lẽ, không mang tính bi kịch nhưng ăm ắp cô độc khắp mặt tranh. Nhìn chung, các sáng tác này thể hiện nét độc đáo của Nguyễn Trung: vừa mang âm hưởng của tinh thần hiện sinh châu Âu, vừa giữ được nhịp điệu mềm mại của mỹ cảm Á Đông. Như vậy, hình tượng phụ nữ không chỉ là chủ đề sáng tác mà còn là biểu tượng cho khát vọng tự do trong một không gian nội tâm riêng biệt, nơi cái đẹp thuần khiết của phụ nữ được lý tưởng hóa.

Trong thực hành nghệ thuật, Nguyễn Trung quan niệm cái đẹp trong nghệ thuật là một phạm trù khó định nghĩa rõ ràng; đó là một tiến trình kiếm tìm, đòi hỏi người nghệ sĩ luôn tự làm mới chính mình. Mọi kế hoạch định sẵn thường dẫn đến bế tắc; chỉ khi ý niệm ngẫu hứng dần hiện bên trên tấm toan, họa sĩ mới thực sự nhận ra điều mình đang tìm kiếm. Vì vậy, ông luôn giữ vững một tâm thế độc lập tuyệt đối, đặt trực giác và cảm thức nội tâm vượt lên trên những hệ thống tư tưởng cứng nhắc. Bàn tay ông trở thành phương tiện cho vô số mệnh lệnh trừu tượng, hành động sáng tạo được diễn ra theo cách tự nhiên và trung thực nhất. Song ông cũng nhận ra sự hi sinh chi tiết để đạt đến tính toàn thể; mỗi thành tố tạo hình không tồn tại độc lập mà phải phục vụ một cấu trúc tổng hòa. Từ đó, ngôn ngữ hội họa của ông dần định hình với bố cục vững chãi, cấu trúc chặt chẽ, đường nét tinh giản, bảng màu tiết chế nhưng táo bạo; đây là kết quả của một quá trình tinh lọc, gợi liên tưởng cổ điển nhưng vẫn mang tinh thần tìm tòi cái mới.

Tự do trong sáng tạo của Nguyễn Trung vừa vô tư như một đứa trẻ nghịch cát ngoài biển, vừa điềm nhiên như một người trưởng thành có thể “thõng tay vào chợ”, thản nhiên rẽ lối khi cảm nhận một hướng đi đã không còn phù hợp. Chỉ trong trạng thái tự tại ấy, những tầng vô thức sâu thẳm mới có thể được “lượm nhặt” một cách tự nhiên. Tuy nhiên, ngay cả khi tác phẩm đã hoàn thành, sự không hài lòng vẫn có thể còn tồn đọng. Thời gian đôi khi có thể làm thay đổi cách nhìn, và người họa sĩ sẵn sàng phá bỏ để bắt đầu lại từ đầu. Vì vậy, mỗi chữ ký trên tác phẩm hay mỗi cuộc triển lãm chỉ là dấu mốc tạm thời trong hành trình sáng tạo liên tục của Nguyễn Trung – một cuộc viễn chinh luôn song hành với những biến động của con người và thời đại. Trong dòng chảy ấy, những hời hợt hình thức hay sự tán dương nhất thời đôi khi chỉ là cái bóng phù phiếm của một cái tôi hoa hoét.

Họa sĩ quan niệm sáng tạo không phải là một nghề nghiệp mang lại giá trị vật chất, mà là một sự nghiệp tinh thần, nơi ông đã đặt trọn thành thật của kiếp nhân sinh. Vậy nên, đối với Nguyễn Trung, hội họa không chỉ đơn thuần là cách thức mưu cầu vẻ đẹp hoàn mỹ; đó còn là phương tiện đưa sự bình an trở về với tâm hồn; một phương thức cứu rỗi cá nhân khỏi một cuộc đời khô khốc, u buồn và dễ bị quên lãng. Hơn thế nữa, ông vẽ như cách mình thở – một nhu cầu tự nhiên và thiết yếu để tồn tại. Nếu không vẽ, ông không biết mình có thể trở thành ai khác. Hành trình sáng tác vì thế là chuyến viễn du nội tâm nhằm truy tìm cái đẹp trong chính những khắc khoải và nỗi tuyệt vọng của bản thân. Nhận thức ấy cho thấy hội họa của Nguyễn Trung không tồn tại tách biệt mà hòa nhập vào sự hiện hữu cá nhân, cả ở phương diện vật chất lẫn tinh thần. Chính điều đó tạo nên động lực thôi thúc ông sáng tạo đến tận cùng, như một cách sống trọn vẹn để không phải day dứt vì đã hoài phí đời mình.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Lý lịch khoa học tác giả - tác phẩm Nguyễn Trung lưu trữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

Huỳnh Hữu Ủy “Nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại”.

Lê Thiên Bảo, Nguyễn Trung – Sáu thập kỷ loay hoay tự cởi trói, từ https://tapchimythuat.vn/nguyen-trung-sau-thap-ky-loay-hoay-tu-coi-troi/

2021 © Bảo tàng Mỹ thuật Hồ Chí Minh. Design by Nina.vn
  • Đang online: 5
  • Tuần: 326
  • Tháng: 2202
  • Tổng truy cập: 1135374