NHÀ GIÁO NHÂN DÂN – HỌA SĨ HOÀNG TRẦM TỬ TẾ TRONG THỰC HÀNH NGHỆ THUẬT

NHÀ GIÁO NHÂN DÂN – HỌA SĨ HOÀNG TRẦM TỬ TẾ TRONG THỰC HÀNH NGHỆ THUẬT
Ngày đăng: 29/04/2026 09:13 AM

NHÀ GIÁO NHÂN DÂN – HỌA SĨ HOÀNG TRẦM

TỬ TẾ TRONG THỰC HÀNH NGHỆ THUẬT

                                                                                                       Nguyễn Thị Thùy My

Hoạ sĩ Hoàng Trầm (1928-2025), sinh tại Thủ Thừa, Tân An (thuộc Long An ngày nay). Ở tuổi niên thiếu, ông theo học trường Mỹ thuật thực hành Gia Định nhưng phải tạm dừng để tham gia kháng chiến từ mùa thu năm 1945. Với nhiệm vụ vẽ tranh cổ động, chân dung lãnh tụ, làm và in báo tại Phòng Thông tin Văn nghệ quận Cần Giuộc; Hoàng Trầm đóng góp sức trẻ vào công cuộc đấu tranh của dân tộc. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, phục vụ thiết kế sân khấu và phục trang tại Đoàn Văn công Tổng Cục Chính trị thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam. Khi tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam khóa I-1964, họa sĩ đã dành 11 năm công tác tại Đại học Mỹ thuật Việt Nam; sau năm 1975 về Nam tiếp tục giảng dạy ở Khoa Hội họa Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuổi trẻ của Hoàng Trầm gắn liền với các hoạt động nghệ thuật phục vụ kháng chiến và đã cống hiến cả cuộc đời trong công tác đào tạo thế hệ sau. Không chỉ làm tròn trách nhiệm nhà giáo một cách mẫu mực, Hoàng Trầm còn là một nghệ sĩ bền bỉ trong sáng tác, luôn giữ tinh thần nghiêm cẩn, đề cao sự cẩn trọng trong từng tác phẩm. Đồng thời ông tiết chế trước danh lợi cũng như các khuynh hướng đáp ứng tâm cảm thời đại và tập trung tuyệt đối cho lối tạo hình đặc trưng Việt Nam. Có lẽ cũng bởi sự kiên định ấy mà ông chỉ tổ chức triển lãm cá nhân đầu tiên khi đã ngoài 80 tuổi, một sự kiện mang ý nghĩa tổng kết hơn là khẳng định tên tuổi.

Đối với Hoàng Trầm, hội họa là một phương thức phản ánh hiện thực cuộc sống bằng lăng kính thẩm mỹ. Đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật của ông là sự cách điệu khỏe khoắn, không tuân thủ cấu trúc hàn lâm mà chú trọng vào điệu bộ, nhịp điệu chuyển động. Các tác phẩm thể hiện sự kết hợp giữa ngôn ngữ tạo hình của khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa cùng chất Nam bộ cương nghị, bộc trực đã tạo nên sắc thái riêng ở cả hình thức và nội dung. Ông thường nhấn mạnh sự đối lập giữa hình và nền nhằm tạo chiều sâu thị giác, đồng thời thể hiện tính quần thể hóa của các chủ thể trong không gian đã được gạn lọc. Quá trình sáng tác của ông bắt đầu từ vô số bức trực họa tỉ mỉ, tiếp đến là những phác thảo kỹ càng, chắt lọc cân nhắc rồi xây dựng bố cục mang tính khái quát và cuối cùng là hoàn thiện công phu trên chất liệu. Vì vậy, mỗi tác phẩm vừa giữ được tính chuẩn mực trong tạo hình, vừa thể hiện sự linh hoạt trong biểu đạt, phảng phất nét giản dị, chân tình mà vẫn gợi chiều sâu tinh tế.

Dù làm chủ nhiều chất liệu như sơn dầu, lụa, khắc gỗ… nhưng họa sĩ đặc biệt dành tình yêu cho sơn mài. Ông xem đây là chất liệu đặc trưng, mang đậm hồn cốt dân tộc mà không quốc gia nào có được và thường sử dụng để chuyên chở cho những “hiện thực chân thành” trong tranh. Tình yêu tha thiết dành cho sơn mài đã giúp Hoàng Trầm chuyển hóa những “nguyên liệu” tưởng chừng đơn giản thành các tác phẩm giàu tính thẩm mỹ, bình dị nhưng vô cùng lộng lẫy, phản ánh trọn vẹn tâm hồn đôn hậu, giản dị của con người Việt Nam.

Giá trị nhân văn trong tranh của họa sĩ được thể hiện rõ nét qua cách ông tập trung khai thác đề tài gần gũi với đời sống người Việt. Các chủ đề như người lính, người mẹ, tình cảm dân quân, đồng đội hay tình thân gia đình… luôn được ông tôn vinh bằng sự mộc mạc và chất phác trong từng nét vẽ. Tranh Hoàng Trầm không đặt nặng hình thức hay mang vác quá nhiều yếu tố chính trị; ông thể hiện sự hăng say dấn thân cho dân tộc bằng cách sáng tác về đề tài người lính thông qua những câu chuyện, khoảnh khắc khác nhau. Dù ở góc nhìn nào, người xem đều cảm nhận một tình cảm dào dạt được tác giả gửi gắm trong từng bố cục và hình tượng nhân vật, đồng thời thấy được tinh thần phục vụ đất nước, đề cao tính cộng đồng, hướng tới giá trị nội tại.

Tác phẩm sơn mài “Lũ”, thuộc sưu tập Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (90 x 120 cm, sáng tác năm 1994, sơn mài) là một minh chứng sống động cho sức bền bỉ của đoàn quân giải phóng khi vượt qua những dòng lũ, tiếp viện cho miền Nam. Lấy bối cảnh ở chiến trường rừng núi, tác phẩm phản ánh rõ nét sự khắc nghiệt của thiên nhiên trong thời kỳ đấu tranh cũng như ý chí kiên cường của chiến sĩ cách mạng. Trong những năm tháng kháng chiến, tác giả cùng đồng đội đã sống và hoạt động trong rừng sâu, trên núi cao, rừng núi trở thành nơi che giấu lực lượng, là căn cứ cách mạng và cũng là mái nhà vững chắc cho chiến sĩ. Ký ức về rừng sẽ không thể hoàn thiện nếu thiếu đi những giây phút các chiến sĩ phải đối diện, chống chọi với thiên tai lũ mưa lũ. Hoàng Trầm đã khéo léo tạo hình cho những hiểm nguy của tự nhiên thành một bản anh hùng ca bất diệt, không chỉ ghi dấu một thời kỳ lịch sử hào hùng mà còn nhắc nhở các thế hệ sau về giá trị của lòng quả cảm, tinh thần đoàn kết dân tộc trong những thời khắc thử thách cam go. Bên cạnh đó, tác phẩm còn mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc khi hình ảnh dòng lũ dữ dội không chỉ tượng trưng cho thiên tai mà còn gợi nhắc đến hình ảnh quân địch tràn tới. Cũng chính từ hình ảnh ấy, sức mạnh quân giải phóng lại được tôn vinh, thể hiện ý chí và nghị lực phi thường vượt lên mọi khó khăn để bảo vệ quê hương, đất nước.

Lũ rừng vốn dĩ rất hung tợn nhưng dưới góc nhìn của Hoàng Trầm, hiện thực ấy được tái tạo theo cách “thực hơn cả thực”. Ông không phóng đại sức mạnh của lũ mà lựa chọn cách điệu cho cơn lũ một nét uyển chuyển, nhịp nhàng như mảnh vải lụa quấn quanh chân người chiến sĩ. Từ đây, sự gắn kết giữa con người và cảnh vật được thể hiện rõ nét, phản ánh mối liên hệ hữu cơ trong không gian tác phẩm. Mảnh hồi ức hiện thực xưa cũ được ông cắt rời, gạn lọc đến mức tối giản, tập trung xây dựng vào những đặc trưng tiêu biểu theo tạo hình riêng biệt, đồng thời tước bỏ chi tiết có thể làm giảm sự cô đọng cho tác phẩm. Nhưng mỗi tiểu tiết hiện diện dù nhỏ nhặt nhất đều được họa sĩ chăm chút, mang đậm hơi thở của cuộc sống. Bố cục tác phẩm được phân thành nhiều nhóm nhưng liên kết mạch lạc; trong khi nhóm chủ thể chính mang hình dạng cụ thể thì nền lại có hình dạng tương đối rời rạc, không ranh giới cố định, thể hiện cho cơn lũ mạnh dồn dập khắp nẻo. Tuy nhiên các mảng đậm của bối cảnh liên kết với nhân vật, giúp tác phẩm hình thành các đường định hướng nhịp nhàng, tạo thành một thể thống nhất.

Hiệu ứng sơn mài trong tác phẩm được tác giả tiết chế và tinh giản nhưng không gây cảm giác nhàm chán. Để tạo nên sự mềm mại cho dòng lũ, ông đã khéo léo kết hợp giữa thếp vàng, bạc quỳ và thếp bạc, vàng vụn. Nhờ đó, các mảng lũ tràn trong tranh không bị thô cứng mà trở nên uyển chuyển, tinh tế. Một điểm dễ nhận thấy là họa sĩ sử dụng nét đen chủ đạo nhưng thay đổi linh động với nhiều màu sắc khác nhau tùy vào từng vùng không gian, góp phần làm cho hệ thống nét trở nên linh hoạt, không bị gò bó. Màu sắc trong tác phẩm được tiết giản tối đa, nhưng giữa chủ thể và bối cảnh có sự tương phản mạnh mẽ, giúp người xem cảm nhận khí thế phấn chấn. Trong quá trình sáng tác, các sắc màu như tự nó dẫn lối cho đường nét mà họa sĩ đặt để lên từng sự vật, sự việc. Chính từ đây, những suy tư, trăn trở và ảnh hưởng nghệ thuật mà tác giả tích lũy đã được đánh thức và thể hiện qua từng sắc màu, hình nét, bút pháp trên tranh. Mọi dấu ấn để lại trên tác phẩm đều rất tự do, khoáng đạt; chính sự tự do này đã khắc họa cảm quan thẩm mỹ cá nhân của Hoàng Trầm, giúp tác phẩm mang đậm dấu ấn riêng biệt, không lẫn với bất kì ai.

Hoàng Trầm đã nhìn thẳng vào hiện thực thấm đẫm nước mắt và mồ hôi của dân tộc để đồng cảm với những gian khổ, hi sinh mà con người Việt Nam đã trải qua trong chiến tranh và những biến động lịch sử. Khác với “Lũ” khi gợi tả thiên nhiên khắc nghiệt mang tính ước lệ, tác phẩm “Lính kể chuyện” lại cho ta thấy một cách tiếp cận khác biệt về mặt bố cục và hình thức thể hiện của Hoàng Trầm. Nếu như “Lũ” tập trung vào việc xây dựng đối lập giữa con người và thiên nhiên, nhấn mạnh sự khắc nghiệt của hoàn cảnh thì “Lính kể chuyện” lại hướng đến việc đề cao mối quan hệ gắn bó giữa người với người, nhất là giữa quân và dân.

 Tác phẩm “Lính kể chuyện”, thuộc bộ sưu tập Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, được thực hiện bằng chất liệu sơn dầu với kích thước 100 x 130 cm, sáng tác vào năm 1990. Tác phẩm đã tái hiện một cách chân thực khoảnh khắc trở về của người lính tình nguyện Việt Nam sau khi hoàn thành nhiệm vụ chống lại chế độ diệt chủng tại Campuchia. Trong “Lính kể chuyện”, cách sắp đặt bố cục và không gian đã làm nổi bật tinh thần xã hội chủ nghĩa. Không chỉ phản ánh sinh động cuộc gặp gỡ chất chứa tình cảm giữa quân và dân trong bối cảnh kháng chiến; tác phẩm còn khắc họa bầu không khí ấm áp tạo nên không khí sum vầy như một đại gia đình miền quê Nam Bộ. Sự u tịch vốn có của làng quê nay được khuấy động bởi niềm vui gặp gỡ, lan tỏa giữa các nhân vật. Họ lặng lẽ trao nhau ánh mắt dịu dàng, đằm thắm – một cách biểu đạt tình cảm rất Á Đông, không vội vã mà thấm đượm, sâu lắng. Niềm vui không chỉ của riêng từng nhân vật mà còn là niềm hân hoan chung lan tỏa trong cộng đồng nhỏ, nơi niềm vui cá nhân hòa vào niềm hạnh phúc tập thể. Sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn cũng được thể hiện thông qua bối cảnh và hình tượng nhân vật, hình ảnh ông bà già với vóc dáng nông dân Nam Bộ, gương mặt chất phác, áo bà ba giản dị hiện lên mộc mạc mà thân thương. Nét đặc sắc của “Lính kể chuyện” nằm ở sự giản lược đường nét, nhấn mạnh biểu cảm trên khuôn mặt và trong ánh mắt các nhân vật, giúp truyền tải trọn vẹn cảm giác chân thành, đầm ấm. Không chỉ kể lại một câu chuyện lịch sử, tác phẩm còn mở ra một không gian nghệ thuật hàm chứa những giá trị nhân văn, phản ánh rõ nét lý tưởng tập thể trên nền tảng tình đoàn kết, đề cao tình cảm quân dân trong những thời khắc lịch sử quan trọng của dân tộc.

Từ “Lũ” đến “Lính kể chuyện”, có thể nhận thấy một nhất quán trong tư duy tạo hình: đề cao tính cộng đồng, tinh thần đoàn kết và mối quan hệ hài hòa giữa con người và hoàn cảnh. Các tác phẩm được xây dựng trên nền tảng hiện thực đã qua chắt lọc, nơi hình khối và nhịp điệu giữ vai trò chủ đạo. Hoàng Trầm không tìm cách gây ấn tượng bằng kỹ thuật mà để tác phẩm tự nói bằng sự giản dị. Lấy yếu tố dân tộc làm “chất liệu tinh thần”, họa sĩ gán cho mỗi sự vật mà mình thấy một dáng hình chắc khỏe. Bước vào thế giới hội họa của ông là bước vào cõi hình sắc đơn thuần, nơi mà sự vật chẳng còn hình tượng ý nghĩa như trong cuộc sống bình thường. Nhịp điệu các tác phẩm được cô đọng trong yên lặng nhưng vẫn nhịp nhàng trong tiềm thức người sáng tạo, trong cách nhìn gắn chặt với tình cảm hồn nhiên của tác giả.

Nói về công tác giảng dạy đối với Hoàng Trầm là sự hợp tác giữa thầy và trò, hướng tới mục tiêu giáo dục toàn diện, chú trọng rèn luyện nội lực, kỹ năng chuyên môn và tư duy sáng tạo. Ông từng khẳng định rằng: “Nội lực là cả một quá trình rèn luyện, hình thành từ thực tế cuộc sống.” Từ đó, ông nhắc nhở học trò không nên vì chạy theo trường phái thời đại mà bỏ qua nội lực, bởi nội lực chỉ có thể hình thành qua thực tế, luyện kỹ năng, học tập khoa học xã hội và nghệ thuật. Trong quan niệm của ông, người họa sĩ không chỉ vẽ bằng đôi tay mà còn phải dùng khối óc, trái tim và cảm nhận cá nhân để sáng tác. Phương pháp thực hành và giảng dạy của ông đã nuôi dưỡng một nhân cách sống mẫu mực cho thế hệ sau: bản chất nhân hậu cộng hưởng đam mê và không thể thiếu đi tình yêu nghề mãnh liệt. Chính điều đó đã giúp họa sĩ Hoàng Trầm truyền đạt kiến thức và tâm huyết tới bao thế hệ sinh viên. Nhiều học trò của ông đã trưởng thành, trở thành những nghệ sĩ danh tiếng như Nguyễn Thanh Bình, Đỗ Hoàng Tường, Nguyễn Tấn Cương, Nguyễn Dũng An Hòa… Họ đã kế thừa tinh thần nhân hậu, đam mê, nhiệt huyết của thầy và tiếp tục truyền cảm hứng cho các thế hệ sau.

Hoàng Trầm đã thành công trong việc xây dựng tiếng nói tạo hình đậm chất hiện thực đan xen hiện đại. Biểu hiện yếu tố dân tộc trong tranh của họa sĩ là minh chứng cho sự gắn bó của nghệ thuật với cội nguồn, vừa là nhịp cầu nối đưa tinh hoa truyền thống hòa nhập cùng dòng chảy nghệ thuật tân tiến. Các tác phẩm của Hoàng Trầm là điểm giao thoa giữa quá khứ oai hùng và hiện tại thanh bình, giữa nghệ sĩ và công chúng, giữa ký ức và đời sống. Vùi mình trong sáng tạo, chỉ còn là một họa sĩ Hoàng Trầm đối diện với hội họa như đối thoại với chính mình. Mối bận tâm duy nhất lúc này của ông là làm thế nào hòa hợp quân bình cho hình - sắc - màu – nét từ cảm quan thẩm mỹ riêng biệt của mình. Hội họa Hoàng Trầm không nhằm tạo ra những ấn tượng thị giác mạnh mẽ, mà bền bỉ bồi đắp một giá trị lâu dài: giữ phần nhân trong nghệ thuật. Chính sự kiên định ấy đã làm nên vị trí riêng của ông trong dòng chảy mỹ thuật Việt Nam hiện đại.

Cuộc đời đẹp đẽ, nhân ái của Nhà giáo Nhân dân – họa sĩ Hoàng Trầm đã khép lại vào một ngày đầu năm 2025 nhưng di sản nghệ thuật và giáo dục mà ông để lại vẫn luôn âm thầm lan tỏa. Mỗi tác phẩm là kết tinh của tài năng, đạo đức và lòng tận tụy của người họa sĩ thầm lặng, hội tụ trọn vẹn cả tâm và tài. Dù là những tác phẩm sơn dầu phóng khoáng, lộng lẫy sơn mài, màu nước êm đềm hay những ký họa tỉ mẩn, mọi chi tiết trong tranh Hoàng Trầm đều như chạm vào tâm hồn người xem, khơi dậy miền ký ức về quê hương thân thuộc. Đó không phải là thứ tình cảm phô trương hay mang tính chất tuyên truyền rầm rộ, mà là những tâm tình cụ thể, đủ để nhắc nhở rằng, nghệ thuật sau cùng vẫn là nơi con người tìm thấy sự tử tế và bình an. Những mẫn tiệp bình thản, khoan hòa tế nhị trong hội họa Hoàng Trầm sẽ mãi là giá trị nhân văn chuẩn mực cho thế hệ nghệ sĩ nối tiếp noi theo.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Hà Văn Ngọc Sương. Một họa sĩ, một người thầy.

http://mythuat.edu.vn/tap-chi/thong-tin-my-thuat-so-1-2/mot-hoa-si--mot-nguoi-thay/

Lý lịch khoa học tác giả - tác phẩm Hoàng Trầm lưu trữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

 

 

Tác phẩm của Họa sĩ Hoàng Trầm thuộc bộ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật

Thành phố Hồ Chí Minh

2021 © Bảo tàng Mỹ thuật Hồ Chí Minh. Design by Nina.vn
  • Đang online: 7
  • Tuần: 2077
  • Tháng: 21848
  • Tổng truy cập: 1042279